Thứ ba, ngày 14 tháng mười hai năm 2010

Điều chỉnh Quy hoạch chung thành phố Quảng Ngãi đến năm 2030

Thứ trưởng Nguyễn Đình Toàn cho biết: Bộ Xây dựng đã thống nhất các nội dung cơ bản của đồ án Quy hoạch chung TP. Quảng Ngãi đến năm 2030 để UBND tỉnh Quảng Ngãi phê duyệt như sau:
Điều chỉnh Quy hoạch chung TP Quảng Ngãi đến năm 2030
Phạm vi nghiên cứu lập Đồ án điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Quảng Ngãi được xác định; Phía Bắc giáp ranh giới quy hoạch mở rộng của Khu kinh tế Dung Quất. Phía Namgiáp các xã Nghĩa Điền, Nghĩa Hòa và thị trấn La Hà - huyện Tư Nghĩa. Phía Đông giáp biển Đông. Phía Tây giáp tuyến cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi. Tổng diện tích đất tự nhiên khu vực nghiên cứu lập quy hoạch là 14.199,54ha.
 Xây dựng đập dâng Trà Khúc sẽ góp phần tạo cảnh quan cho thành phố Quảng Ngãi.
TP Quảng Ngãi được xác định là thành phố đô thị tỉnh lỵ, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội và khoa học kỹ thuật của tỉnh Quảng Ngãi. Là một trong những trung tâm kinh tế khu vực miền Trung về công nghiệp chế biến, gia công, thương mại, dịch vụ, du lịch và đặc biệt là hậu phương quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển Khu kinh tế Dung Quất. Là đầu mối giao thông quan trọng của khu vực. Dự kiến đến năm 2030, dân số toàn thành phố là 357.100 người, trong đó dân số đô thị là 299.400 người. Năm 2015 dự kiến diện tích đất xây dựng đô thị sẽ đạt khoảng 4.238ha, trong đó đất dân dụng khoảng 1.831ha. Đến năm 2030 dự kiến diện tích đất xây dựng sẽ đạt khoảng 5.160ha, trong đó đất dân dụng khoảng 2.365ha.

Thành phố Quảng Ngãi sẽ được phân vùng theo 4 khu chức năng cơ bản bao gồm: vùng đô thị trung tâm, vùng mặt tiền bờ sông, vùng công viên sinh thái, vùng bờ biển.

Thứ nhất: Vùng đô thị trung tâm: diện tích tự nhiên khoảng 4.096ha, dân cư dự kiến khoảng 202.100 người. Tại đây bố trí các trung tâm chính trị và hành chính của tỉnh và thành phố, các trung tâm dịch vụ thương mại, y tế, các công trình đầu mối giao thông khu vực. Đây là khu vực đô thị hiện hữu sẽ không có các thay đổi lớn, trừ việc mở rộng lộ giới một số tuyến đường để xây dựng tuyến đường sắt nhẹ. Hoàn thiện nâng cấp các trung tâm hành chính, thương mại dịch vụ, công viên cây xanh, các khu ở đô thị phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đô thị mới. Tại khu vực này dự kiến sẽ xây dựng tổ hợp nhà ga đường sắt cao tốc Bắc Nam.

Thứ hai: Vùng mặt tiền bờ sông: diện tích tự nhiên khoảng 4.836ha, dân số dự kiến khoảng 75.533 người. Đây là khu vực phát triển mới của thành phố theo quan điểm khai thác giá trị cảnh quan sông nước. Tại khu vực này sẽ xây dựng đập dâng giữ nước sông Trà Khúc cùng hệ thống đê kè linh hoạt theo địa hình. Cải tạo sông Trà Khúc và hệ thống các đảo ven sông tạo thành không gian mở, xanh sinh thái phục vụ các khu du lịch và thương mại ven sông, đô thị hóa các điểm dân cư dọc hai bờ sông. Bảo tồn phát triển các vùng dân cư nông thôn, nông nghiệp theo hướng sinh thái, chất lượng cao.

Thứ ba: Vùng công viên sinh thái: diện tích tự nhiên khoảng 3.114ha dân số hiện dự kiến khoảng 46.575 người. Đây là khu vực chuyển tiếp giữa khu vực xây dựng tập trung tới khu vực ven biển. Dự kiến xây dựng đập dâng giữ nước thứ hai cùng hệ thống đê kè để khai thác không gian mở ven sông Trà Khúc phục vụ phát triển du lịch và đô thị ven sông. Bảo tồn phát triển các vùng dân cư nông thôn, nông nghiệp theo hướng sinh thái, chất lượng cao.

Thứ tư: Vùng bờ biển: diện tích tự nhiên khoảng 2.153ha, dân số dự kiến khoảng 32.892 người. Dự kiến xây dựng thành một khu đô thị với những dịch vụ nghỉ dưỡng ven biển chất lượng cao.

Về định hướng quy hoạch giao thông:

Sân bay Chu Lai là sân bay quốc tế cấp hạng 4F theo quy hoạch hàng không sẽ đóng vai trò sân bay đối ngoại quốc tế chính cho thành phố Quảng Ngãi. Dự kiến bố trí một sân bay trực thăng trong thành phố Quảng Ngãi tại khu vực nền sân bay cũ trong thành phố.
Quảng Ngãi - Người Quảng Ngãi
Đường sắt cao tốc chạy ven phía Tây thành phố, song song với trục đường bộ cao tốc. Dự kiến sẽ có một ga hành khách bố trí tại cửa ngõ vào thành phố. Đường sắt nhẹ kết nối thành phố với Khu kinh tế Dung Quất và sân bay Chu Lai. Đường sắt Bắc Nam sẽ giữ nguyên tuyến hiện nay, nâng cấp ga hiện có, hoàn chỉnh hệ thống giao thông đô thị kết nối với ga. Xây dựng mới một ga hàng hóa tại phía Bắc thành phố với quy mô khoảng 15ha, đất kho tàng khoảng 20ha.

Trục đường bộ cao tốc có hai điểm đấu nối với hệ thống giao thông đô thị tại phía Bắc và phía Nam trung tâm thành phố. Quốc lộ 1A được quản lý triệt để giảm các điểm giao cắt, bố trí hệ thống đường gom theo quy định.

Đối với những khu vực nội thị hiện hữu: Bổ sung hệ thống bãi đỗ xe, công trình quảng trường và đầu mối kết nối với hệ thống giao thông đối ngoại. Những khu vực mới xây dựng dọc sông Trà Khúc sẽ xây dựng hệ thống giao thông theo tiêu chuẩn đô thị loại II, tuân thủ các yêu cầu về bảo vệ cảnh quan dọc hai bờ sông.

Tại các khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng: Xây dựng mạng lưới đường ngoài mục tiêu phục vụ phương tiện giao thông công cộng, đáp ứng các yêu cầu về khai thác cảnh quan, thân thiện với môi trường.
(Theo Báo XD)

Thành phố Vạn Tường - Đà Lạt trên biển - Quảng Ngãi


Nhiều người ví von, sau khi hoàn thiện, thành phố Vạn Tường (huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi), sẽ trở thành “Đà Lạt trên biển” bởi phong cảnh ở đây thực hữu tình, vừa có đồi núi, vừa có biển cả mênh mông. Đặc biệt, tại bãi biển sẽ có một khu du lịch sinh thái gồm nhà nghỉ, khách sạn, biệt thự, sân gôn...

Thành phố rộng 2.400 ha, được định hướng phát triển theo hướng công nghiệp - du lịch - dịch vụ, nhằm phục vụ các chuyên gia, công nhân trong và ngoài nước làm việc tại Dung Quất và dân cư địa phương. Dự kiến năm 2010, nơi đây có khoảng 100.000 dân.
Ông Trần Lê Trung, Trưởng ban quản lý Khu công nghiệp Dung Quất, cho biết, Vạn Tường được xây mới hoàn toàn với kiến trúc hiện đại, nhưng vẫn giữ nguyên địa hình đồi núi đan xen. Thành phố sẽ gồm nhiều nhà cao tầng, biệt thự xen lẫn với các dịch vụ như bể bơi, sân đỗ trực thăng, lâm viên...
Hai năm qua, thành phố Vạn Tường được đầu tư 60 tỷ đồng làm một số công trình như: đường nhựa, điện, hệ thống bưu chính... Dự kiến, đến năm 2005, thành phố tiếp tục được đầu tư khoảng 1.500 tỷ đồng để xây dựng cơ sở hạ tầng.
Bãi biển Khe Hai thuộc xã Bình Thạnh, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi, nằm cách quốc lộ 1A khoảng 3km về phía đông, là một trong số những bãi biển đẹp của vùng duyên hải miền Trung.
Khe Hai có bãi tắm lý tưởng với dải cát trắng trải dài bên cạnh những hàng phi lao xanh phơi mình đón gió và nắng. Từ Khe Hai nhìn về phía đông sẽ bắt gặp núi Nam Trâm và mũi Co Co nhô ra biển,
nhìn về phía tây là dãy núi Bàn Than chạy theo hình vòng cung như cánh tay ôm ấp lấy đất liền. Khách du lịch có thể lên thuyền đến Hòn Trà, Hòn Ông khám phá những hang động thiên nhiên kỳ thú, hoặc men theo bãi đá ngầm bắt ốc đụn, khảy hàu nướng và thưởng thức các món hải sản như sò, hến, ghẹ, mực…, đặc biệt là món nhông nướng. Nhông nướng là đặc sản ở đây, được ướp với ớt và củ nén, đem nướng trên lò than củi đỏ hồng, có mùi vị thơm ngon, đậm đà không thể quên.

Khe Hai chỉ cách cảng biển nước sâu Dung Quất, Nhà máy lọc dầu số 1 và thành phố Vạn Tường từ 5-7 km. Nhận thấy những tiềm năng phát triển kinh tế và du lịch của Khe Hai, nhiều nhà đầu tư đã tìm đến đây. Công ty TNHH Thiên Đàng (thành phố Hồ Chí Minh) đã đầu tư xây dựng Khu du lịch sinh thái biển tại Khe Hai. Dự án này sẽ được thực hiện trong 5 năm, hoàn thành năm 2010; riêng Khu Bốn mùa có tổng vốn đầu tư gần 300 tỷ đồng với 250 biệt thự, nhà nghỉ, nhà hàng, bể bơi và một số dịch vụ phụ trợ khác phục vụ khách du lịch nằm trên diện tích 250 ha, trải dài gần 2 km bờ biển. Khu du lịch hoàn thành sẽ phục vụ cán bộ Khu kinh tế Dung Quất, Chu Lai, khu vực vực miền Trung Tây Nguyên và khách du lịch trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, Công ty đầu tư và xây dựng Thiên Tân cũng đầu tư xây dựng Khu biệt thự phục vụ chuyên gia, công nhân tham gia thi công xây dựng Nhà máy lọc dầu; Công ty Star Management thuộc Hiệp hội Thương mại Mỹ (thành phố Hồ Chí Minh) đầu tư khu Resort ven biển, nhà hàng, dịch vụ…

Trong tương lai gần, Khe Hai sẽ nằm trong các tuyến du lịch sinh thái biển được liên kết với các tuyến du lịch tham quan di tích, lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh ở Quảng Ngãi như: Chứng tích Sơn Mỹ, Khu du lịch Mỹ Khê, Sa Huỳnh, đảo Lý Sơn.

Nguồn tin: Internet

Về Quảng Ngãi ăn Don


Hình bài viết Về Quảng Ngãi ăn don
Không chỉ để mời khách phương xa mà người Quảng tha hương trở về đều tìm đến quán ăn bát don quê. Vị cay của của ớt bay, vị ngọt dịu của bát don có màu đùng đục... từ lâu món don ăn dân dã  trở thành đặc sản của tỉnh này...
Thực khách đến Quảng Ngãi muốn tìm quán don nhanh nhất là đến ngã ba Cống Kiểu nằm trên đường Quang Trung, gần Trường THPT Trần Quốc Tuấn. Nếu có thời gian thì theo đường Lê Trung Đinh về đất Thu Xà (cách TP Quảng Ngãi chừng 10km) hoặc cũng theo con đường này, nhưng đến ngã tư Ba La đi về hướng bắc dọc dòng sông Trà xuống vùng Nghĩa Phú tìm đến những quán don nằm sát bên đường để thưởng thức món don. Còn muốn hỏi chuyện về don, chắc sẽ được trả lời bằng câu ca dao nằm lòng mà ai cũng thuộc:
“Nghèo nghèo, nợ nợ
Cũng cưới con vợ bán don
Mai sau nó chết cũng còn cặp ui “
Chuyện “cặp ui” là chuyện của một thời. Trong ký ức của người dân từng sống ở thị xã Quảng Ngãi (nay là TP Quảng Ngãi ) thập niên 1960, 1970 chẳng ai quên những gánh don bán trên đường Trần Hưng Đạo.
Don đã nấu chín
Thời đó, con đường Trần Hưng Đạo có xe ngựa chạy thay xe thồ. Trong mờ sương sớm, người dân hai bên phố nghe tiếng vó ngưa chạy trên đường thì cũng là lúc những nguời bán don xuất hiện. Người bán don dùng quang gánh, một đầu gánh ui đất có chứa nước don (để giữ độ nóng lâu và dùng ui đất vẫn cứ tốt hơn dùng thau nhôm nhựa) và một đầu gánh bát, muỗng và chồng bánh tráng bỏ vào bao nilông xếp cao nghều. 
Con don vừa đánh bắt  được dưới sông 

  Dùng ghe đi nhủi don ở hạ lưu sông Trà Khúc
Như đã được mặc định từ trước, người ăn gánh don nào thì quen mặt, quen hàng, người bán chẳng hề rao, ai gọi thì dừng lại, dựng đòn gánh lên mở ui múc don vào tô bỏ thêm ít củ hành tây, hành lá và chẳng quên kèm với chiếc bánh tráng, trái ớt bay (có người gọi là ớt hiểm, trái nhỏ cay xé). Khách sau khi nhận bát don bốc khói, dùng cái muỗng dằm trái ớt xiêm thong thả bẻ bánh tráng bỏ vào chỉ đủ khi bánh tráng vừa ngậm nước thì múc ăn.
Thi thoảng có thực khách bưng bát nước don lên húp sùm sụp. Một bát don chỉ 3.000 đồng. Giá mềm mà vị ngon lại dễ tiêu nên già trẻ, sang hèn đều khoái khẩu. 
Con don vừa đánh bắt  được dưới sông
Bây giờ, “công nghệ" nấu, bán tô don đã được cải tiến nhiều. Ở Quảng Ngãi, hàng quán bán don buổi sáng, buổi chiều và cả đêm tối. Thế nhưng, đi dọc cả tỉnh cũng chẳng tìm đâu ra người gánh don đi bán và đựng don trong ui (bằng đất nung) nữa. Thay vào đó, chủ quán nấu trong nồi nhôm. Một số quán còn xào don xong để trong bát, khi có thực khách đến thì múc ra tô đổ nước sôi vào. “Công nghệ “ này tiện lợi thì có nhưng chất lượng tô don giảm sút nhiều.
Gặp khí trời động, không cào nhủi được don, một số quán dùng con hến thay don nên vị nhạt. Bởi con don khác con hến là tuy cùng có vỏ màu vàng nhạt nhưng loài don ruột có hai miếng như lá phổi màu vàng lợt, có tua hồng hồng có râu dài, nhưng hến thì không có, mặc dù họ nhà don hến cùng sinh sôi trên một dòng sông. 
Rồi theo thời hiện đại, con don được theo những kiện hàng ướp đá vào Nam ra Bắc. Người ta bán don theo kiểu don thì ít mà hến thì nhiều, hoặc xào don rồi đổ nước sôi có bột ngọt vào nên vị cứ nhạt. Do vậy, muốn ăn một don đúng vị của nó, thực khách hãy về Quảng Ngãi nhờ chủ quán múc cho bát don có màu đùng đục và cũng đừng nên bỏ bánh tráng sống vào mà hãy dùng như thời xưa chỉ cần bát nước don có há hành, hành tây, trái ớt hiểm và bánh tráng là đủ. 
Phân loại don và hến
Bát don bày lên bàn cho thực khách, nhưng trái ớt không phải là ớt bay
Để có tô don làm hài lòng thực khách là câu chuyện dài. Mặc dù ở miền Trung có lắm sông, nhiều suối, nhưng chỉ ở hạ lưu nơi con sông Trà Khúc và sông Vệ gặp biển mới có con don. Cứ từ tháng giêng đến tháng 7 âm lịch, khi con sông Trà, sông Vệ trong xanh không có những dòng nước đục ngầu từ trên nguồn đổ về. Người dân mang nhủi (vật dụng đan bằng tre hình rẽ quạt, phía trên có cán để cầm) ra sông nhủi. Đây là nghề của cư dân nghèo. Muốn nhủi được don họ phải dầm mình trong dòng nước. Khi nhủi thì thu được cả con don lẫn con hến.
Nhủi xong, người dân đem bán cho các chủ vựa, Chủ vựa bán cho các chủ quán đem rửa sạch rồi phân don và ốc, hến ra riêng. Sau đó, họ đem don chà sạch nấu nước sôi bỏ vào luộc, đãi lấy ruột don và lấy nước này nấu chừng vài chục phút là có thể múc ra tô để hầu thực khách. 
Tô don xứ Quảng có thừa vẻ dân dã nhưng cũng đầy phong vị, là đặc sản của vùng đất Quảng Ngãi khô cằn, đầy nắng gió và mưa lũ. Có dịp đi ngang Quảng Ngãi bạn hãy thưởng thức một bát don! 
Theo dulich.tuoitre.com.vn

Món ngon, đặc sản Quảng Ngãi

ĐẶC SẢN QUẢNG NGÃI
 
1. Cá bống
 
 
Tùy theo hình dáng, màu sắc người ta chia cá bống ra làm nhiều loại: cá bống thê, cá bống dô, cá bống nhọn, cá bống mú, cá bống tượng nhưng ngon nhất là cá bống cằn và cá bống cát. Hai loại cá bống này thịt thơm, xương mềm, vị đậm đà chân chất. Nếu cá bắt bằng đặt trúm ở vùng Trường Xuân, An Bường thì càng hấp dẫn, độc đáo, có mùi đặc biệt, có hương lạ lùng, làm cho ai đã một lần thưởng thức thì sẽ nhớ mãi món ăn bình dị này.
Cá bống sông Trà mà kho kiểu “móc câu”, rim với nước mắm cá cơm vùng Kỳ Tân, An Chuẩn, ướp nghệ tươi già giã nhỏ, rắc tiêu sọ Trà Phong và ăn cùng niêu cơm gạo ba trăng, trì trì của đồng cát Ba Gia, Tịnh Hiệp, Nghĩa Lâm…, uống mo đài nước chè xanh Minh Long…, thì không có gì sánh bằng!
2. Chim mía
 
Chim mía là tên gọi chung các loại chim ngủ trong những đồng mía bạt ngàn ở Quảng Ngãi như chim chéo, chim én, chìa vôi, dồng dộc, chào mào, áo đà…, trong đó chim chéo có thịt thơm ngon và to nhất.
Mùa đánh bắt chim mía kéo dài từ tháng 8 đến tháng 4 năm sau. Dụng cụ bắt chim chỉ cần lưới và sào sài. Tùy theo vị trí và thời điểm người ta chọn cách đánh lưới rập, đánh lưới kép hay đánh lưới giương.
Có nhiều cách chế biến món ăn chim mía. Thông thường là tẩm ướp gia vị hương, muối, tiêu bột xong cho vào chảo mỡ chiên khô hoặc dồn thịt heo nạc vào bụng chim hấp cách thủy, hay cho chim và gia vị vào trứng vịt rồi đem chưng. Nhưng ngon nhất vẫn là món chim mía nướng, chỉ cần cho lá chanh, lá sả, muối ớt vào bụng chim xong kẹp vào thanh tre tươi hoặc xỏ xâu rồi nướng trên than hồng.
3. Mắm nhum
 
Mắm nhum là món ăn quí hiếm. Nhum sống trong các gành đá ven biển Sa Huỳnh, Mỹ Á. Lúc nhỏ nhum tròn và dẹp hai bên, đường kính từ 8 – 10cm, dày 3 – 4cm. Để tự vệ, nhum cũng biết “bắn” gai như nhím.
Nhum bắt về, dùng dao bổ đôi rồi lấy thanh tre nhỏ, mỏng nạo vòng quanh, tách thịt ra khỏi vỏ. Thịt nhum trắng hồng kết thành 6 – 8 múi. Nhum có thể ăn sống, kho, trộn thêm trứng và gia vị để chưng hoặc tráng chả. Muốn muối mắm thì cho thịt nhum vào thẩu, rắc một ít muối hạt lên trên. Khoảng 10 ngày sau là có thể dùng được. Để giữ được hương vị riêng của mắm nhum người ta hạn chế gia vị, thường chỉ có tỏi Lý Sơn và tiêu nguyên hạt.
Dùng mắm nhum để ăn với bún, chấm rau, những ngon nhất là với thịt heo ba chỉ cuốn bánh tráng. Mắm nhum còn gọi là “mắm tiến”, vì ngày xưa mắm nhum được dùng để dâng cho vua.
4. Don
 
Don thuộc họ nhà hến, hình quả trám, vỏ mỏng úp vào nhau, con dài nhất chưa đến 2cm, thường sống ở nước lợ sông Trà Khúc, sông Vệ.
Chế biến don rất đơn giản. Don được nấu lên theo tỷ lệ một bát don hai bát nước. Khi don chín, đãi bỏ vỏ, lấy ruột cho vào nước luộc, nêm gia vị, mắm muối, thêm hành lá và hẹ, ăn với bánh tráng sống hoặc bánh tráng nướng và nhất thiết phải kèm với ớt xiêm.
Người ta còn dùng don để nấu canh, nấu cháo. Nếu muốn sang hơn thì làm món thịt don xào với miến, bún mì… Có lẽ, không món ăn nào thuộc hàng đặc sản vừa ngon mà lại rẻ bằng don. Ở Quảng Ngãi có nhiều quán don nhưng nổi tiếng vẫn là don ở Vạn Tượng, Nghĩa Hiệp, Phú Thọ.
5. Cá niêng
 
Cá niêng có lẽ là loại cá đặc trưng của sông suối vùng núi rừng nên tất cả các huyện miền núi Quảng Ngãi đều có. Thân hình hơi dẹp, thon thả như con thoi, vảy bạc lấp lánh, cá niêng thường tìm ăn các loài vi sinh vật dưới chân những ngọn thác nên việc câu và bắt tương đối khó.
Cá niêng kẹp vào gắp tre tươi, nướng trên than hồng, chỉ cần mỡ chảy xèo xèo, mùi thơm nức mũi là đã thấy ngon miệng rồi, nếu gỡ từng miếng thịt cá vàng ươm chấm vào chén mắm gừng hoặc ruột cá niêng chưng và lai rai cùng ly rượu tăm, thì chắc chắn món ăn này sẽ theo người thưởng thức đi đến cùng trời cuối đất.
6. Mạch nha
 
Làm mạch nha chỉ cần có hai thứ: mộng lúa phơi khô nghiền thành bột và gạo nếp. Trước kia, để làm mộng người ta chọn giống lúa ruống (loại lúa địa phương này hạt to, hàm lượng chất béo cao, nhưng năng suất thấp nên sau này bị tuyệt chủng). Hai loại nguyên liệu này đem ủ với nhau rồi cô đặc thành nha. Tuy vậy, đây là nghề thủ công nên tuỳ theo cách gia giảm tỷ lệ, cách thức ủ, nấu mà mỗi lò có hương vị, màu sắc, chất lượng khác nhau.
Nổi tiếng ở Quảng Ngãi là mạch nha Đồng Cát (Mộ Đức). Mạch nha Quảng Ngãi thanh dịu, bổ lành, không ngọt gắt như đường lại đậm đà hương vị quê hương nên du khách ra Bắc vào Nam thường chọn mang về làm quà.
7. Đường phèn
 
Từ xa xưa, Quảng Ngãi đã lưu truyền câu “ngọt như đường cát, mát như đường phèn, trong trắng đường bông, thơm ngon đường phổi”. Trong kỹ thuật chế biến các loại đường, chế biến đường phèn là phức tạp, công phu và tốn thời gian nhất.
Để có những tinh thể đường trắng trong và lóng lánh như ngọc, người thợ phải dùng vôi và trứng gà xử lý nấu ban đầu. Sau khi lọc bỏ loại tạp chất lắng thì đến giai đoạn nấu cô đặc. Khi đường tới thì đổ vào vại đã để sẵn mạng ghèm cho đường kết tinh, đóng khối, và phải mất từ 7 – 9 ngày sau mới thành đường phèn.
Đường phèn Quảng Ngãi đã từng bán khắp các tỉnh thành trong cả nước và xuất khẩu sang một số quốc gia Đông Nam Á. Ngoài việc dùng như một món ăn quí ra, người ta còn dùng đường phèn chưng với chanh, quất để chữa bệnh ho, viêm họng.
8. Kẹo gương
 
Gọi là kẹo gương vì loại kẹo này trong như pha lê, đẹp như bức tranh tĩnh vật với màu vàng ươm của đậu phụng, trắng vàng của mè và mong manh dễ vỡ làm cho người thưởng thức phải nâng niu trên tay như đồ cổ ngoạn.
Kẹo gương từ xưa được sản xuất ở Thu Xà (xã Nghĩa Hoà, huyện Tư Nghĩa). Hiện nay, nghề sản xuất kẹo gương có khắp nơi trong tỉnh, nhưng chủ yếu tập trung ở TP.Quảng Ngãi.
Làm kẹo gương, quan trọng nhất là giai đoạn đường thắng tới. Nếu già qúa, đường sẽ đỏ và trài mỏng không kịp, còn thắng non thì kẹo không trong, không giòn. Người ta, cũng dùng lòng trắng trứng để loại bỏ tạp chất, dùng mạch nha và chanh tươi khống chế cho kẹo khỏi bị lại cát, tuyệt đối không dùng thêm loại hóa chất gì.
Kẹo gương vừa đẹp, vừa ngon, màu sắc hấp dẫn, độc đáo là món ăn đặc sản tự hào của người dân Quảng Ngãi xưa nay.
9. Bánh xèo
 
Tên bánh xèo có lẽ xuất phát từ âm thanh “xèo xèo” reo vui khi nước bột gạo đổ vào khuôn đất có xoa sẵn dầu, mỡ trên bếp lửa hồng. Nguyên liệu chính của món ăn này là gạo lúa cũ. Tùy theo điều kiện và sở thích, người ta có thể bằm thịt vịt nhuyễn xào sơ qua rồi cho luôn vào bột hoặc bỏ lên trên vài miếng thịt bò, thịt heo, tôm đất, tép, trứng gà… Nhưng ngon nhất vẫn là đúc bánh xèo với nấm rơm tự nhiên.
Hàng năm, sau những ngày mưa phùn gió bấc, mặt trời hững lên là nấm từ các bụi tre, gốc mít, vườn thơm, bờ rào… mọc đầy. Cả nhà chia nhau mang mủng, rổ đi hái. Nấm mang về được cạo sạch đất, nhặt rác bẩn rửa với nước muối, rồi tước nhỏ ra để đúc bánh. Bánh xèo đúc nấm rơm chỉ cần thêm vào ít giá đỗ, cuốn với rau sống và chấm với nước mắm pha chanh, đường, ớt, tỏi thì không có loại cao lương mỹ vị nào sánh bằng.
 
(Nguồn: Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch QN)

Sông nước Quảng Ngãi

Sông nước Quảng Ngãi  (04/05/2009)
 
Bình minh trên sông Trà Khúc...
Cũng như các tỉnh ven biển miền Trung, địa hình tỉnh Quảng Ngãi đa dạng và phức tạp; phía Tây là vùng núi đồi (chiếm 2/3 diện tích toàn tỉnh), hiểm trở, chập chùng; dọc theo hướng tây đông, độ cao thấp dần, là những dải đồng bằng hẹp phù sa sông, chạy song song với những dải đồng bằng, thỉnh thoảng nhô lên những ngọn đồi thấp, những dãy núi đất có độ cao không quá 100 mét so với mặt nước biển; tiếp đến là vùng ven biển với những dải cát, động cát cùng nhiều đầm, phá, chia cắt nhau bởi những mỏm núi nhoài ra biển (mũi Batangan, mũi Coco,...) hoặc các cửa sông...

Các dòng sông lớn ở Quảng Ngãi (Trà Bồng, Trà Khúc, Sông Vệ, Trà Câu), đều phát nguyên từ vùng núi phía tây, xuôi về đông và đổ ra biển sau nhiều lần chuyển hướng (tây nam - đông bắc, hoặc tây bắc - đông nam), uốn lượn, quanh co. Ở vùng trung lưu và hạ lưu, phù sa của những dòng sông này bồi đắp thành những đồng bằng hẹp, tương đối phì nhiêu, màu mỡ.

Hệ thống sông ngòi ở miền Trung nói chung, sông ngòi ở Quảng Ngãi nói riêng có đặc điểm chung là lưu vực nhỏ, lòng sông hẹp và dốc, nước chảy xiết, ít có khả năng trữ nước ngầm cho mùa khô. Trong khi đó, do ảnh hưởng của các điều kiện thời tiết - khí hậu, lượng mưa lại chênh lệch rất cao giữa 2 mùa mưa, nắng. Dòng chảy sông mùa mưa chiếm 70% tổng lượng mưa hàng năm; 30% tổng lượng mưa trong mùa cạn lại kéo dài từ tháng Giêng đến tháng Chạp. Nạn khô hạn vào mùa nắng (tháng 1 đến tháng 8) và lũ lụt vào mùa mưa (tháng 9 đến tháng 12) trở thành mối đe dọa thường xuyên đối với sản xuất và đời sống của cư dân sông Trà Khúc. Đã có nhiều trận lũ lịch sử gây ra những thảm hoạ về môi trường, tài sản và tính mạng người dân như những trận lũ kinh hoàng năm Mậu Dần (1878), Giáp Thìn (1964), Kỷ Mão (1999). Riêng trận lũ năm Mậu Dần (Tự Đức thứ 31) - dân gian gọi là trận "lụt bất quá", đã để lại những ấn tượng khó phai mờ trong ký ức người dân Quảng Ngãi với nhiều bài vè, nhiều câu hát dân gian đến nay vẫn còn lưu truyền, thể hiện tình cảnh bi đát của người dân Quảng Ngãi lúc bấy giờ.

Nhưng cũng từ hoàn cảnh thiên nhiên đầy khắc nghiệt như thế mà đức tính nhẫn nại, kiên trì, khối óc tài hoa, bàn tay khéo léo và ý thức hợp lực cộng đồng của người Quảng Ngãi đã được phát huy cao độ. Từ đời này qua đời khác, những luỹ tre xanh được trồng lên giăng khắp đôi bờ sông, vây bọc xóm làng chống lại con nước dữ dội mùa lũ lụt; hàng trăm cây số sông đào xẻ nước từ dòng sông ra nhiều hướng để vừa lấy nước tưới vào mùa hạn, vừa phân lũ mùa mưa. Rất đặc biệt và trở thành một chứng tích lao động hùng vĩ là những guồng xe nước cùng hệ thống bờ cừ, kênh mương, vừa là những công trình thuỷ lợi tắm mát ruộng đồng, vừa hãm dòng chảy nâng cao mực nước sông mùa cạn, tạo điều kiện cho việc đi lại của thuyền bè, điều hoà sinh quyển, làm phong phú hệ động - thực vật sống dưới lòng sông và ven bờ.

Những dòng sông ở Quảng Ngãi đã đi vào thơ ca, âm nhạc, hội họa, điện ảnh với nhiều tác phẩm nổi tiếng như: Trà giang thu nguyệt ca, (thơ, Cao Bá Quát), Nhớ con sông quê hương (thơ, Tế Hanh), Cứ thế sông Trà (thơ, Thanh Thảo), Bến Tam Thương (Tranh khắc thạch cao, Đường Ngọc Cảnh), Nhớ đàn xe nước (nhạc, Vân Đông), Làng nhỏ bên sông Trà (Phim tài liệu, Hãng phim Giải phóng),…

Mỗi con người có một miền quê. Mỗi miền quê gắn với một dòng sông. Sông Trà Bồng, sông Trà Khúc, sông Vệ, sông Trà Câu… Những dòng sông thầm lặng, bền bỉ, ngọt ngào chảy qua cuộc đời mỗi người Quảng Ngãi.


Theo:  Lê Hồng Khánh - Báo QN